Đại cương về bệnh ung thư ruột

Bệnh ung thư ruột là cụm từ được dùng để chỉ chung cho các bệnh ung thư ruột như: ung thư ruột kết, ung thư ruột non và ung thư ruột già. Đây là những bộ phận trong quá trình tiêu hóa thức ăn nên bất cứ một sai sót gì của hệ tiêu hóa cũng dễ gây nên những bất thường trong sự phát triển tế bào ở những nơi này. Bệnh ung thư ruột được liệt vào trong top những bệnh ung thư đang phát triển nhất ở Việt Nam hiện nay.

Khi bộ máy tiêu hóa gặp rắc rối, đa phần các khối u sẽ dễ phát triển ở ruột kết và trực tràng hơn các bộ phận khác. Ngoài ra, khi tế bào ung thư xuất hiện và phát triển ở hai bộ phận này, có rất nhiều triệu chứng tương tự nhau.

Triệu chứng của bệnh ung thư ruột

Cũng giống các căn bệnh ung thư khác, mệt mỏi và sụt cân không rõ nguyên nhân là hai triệu chứng chung. Tuy nhiên, ung thư ruột dễ xảy ra khi cơ thể bạn có các hiện tượng điển hình như sau:

  • Có những đốm máu trong phân, đặc biệt nếu máu sẫm màu hoặc có màu mận chín – đây là triệu chứng thường gặp nhất và không bao giờ nên bỏ qua.
  • Thay đổi trong thói quen của đường ruột, như táo bón hoặc tiêu chảy, trở nên nặng hơn hoặc kéo dài trên 2 tuần.
  • Muốn đi ngoài nữa ngay cả khi vừa rời toilet ra.
  • Đau bụng hoặc khó chịu kéo dài trên 2 tuần
  • Giảm cân không rõ nguyên nhân
  • Thường xuyên cảm thấy đầy hoặc trướng ở bụng dưới
  • Thỉnh thoảng có cảm giác đau nhói hoặc khó chịu trong bụng
  • Siêu âm phát hiện có khối u trong bụng
  • Ngoài ra cũng một số người đã mắc bệnh cho biết cảm thấy mệt mỏi, chóng mặt hoặc khó thở vì họ bị thiếu máu do máu rỉ ra từ đường ruột.

Nguyên nhân gây ra bệnh ung thư ruột

Ngày nay, với sự phát triển của thế giới từ đó có rất nhiều hệ lụy không ngờ tới khiến có rất nhiều nguyên nhân có thể khiến bạn mắc bệnh ung thư ruột. Dưới đây là một vài nguyên nhân điển hình:

  • Do lối sống: Người dùng quá nhiều chất béo, thịt, mỡ, thức ăn với nhiều chất Cholesterol sẽ dễ bị ung thư ruột già hơn, nhất là nếu họ lại không ăn chất xơ, rau hoặc trái cây, hoặc quá mập.
  • Do di truyền: Ung thư ruột già cũng có đặc tính di truyền. Nghĩa là nếu bố mẹ bị ung thư ruột già, con cái cũng có thể dễ bị. Nhất là, bệnh nhân bỗng dưng có trên màng ruột của mình hàng trăm “cục” bướu (polyp). Các bướu này xuất hiện một cách nhanh chóng và biến dạng thành các tế bào ung thư một cách mau lẹ.
  • Do viêm đường ruột: như Crohn’s Disease, Ulcerative Colitis: Bệnh nhân cũng dễ bị ung thư ruột già hơn.
  • Vì đặc tính di truyền của ung thư ruột già, ung thư vú, và ung thư tử cung cùng nằm trên một nhiễm thể, người bị ung thư vú hoặc tử cung dễ bị ung thư ruột già hơn, và ngược lại.

Giai đoạn bệnh ung thư ruột

Dựa vào triệu chứng lâm sàng và các kết quả xét nghiệm, bác sĩ sẽ đưa ra chẩn đoán về giai đoạn phát triển của bệnh. Từ đó làm căn cứ xây dựng phác đồ xây dựng cách chữa bệnh ung thư ruột cho từng bệnh nhân.

  • Giai đoạn 0: Trong giai đoạn 0, các tế bào bất thường được tìm thấy trong niêm mạc (lớp bên trong) của thành ruột. Những tế bào bất thường này có thể trở thành ung thư và lan rộng. Giai đoạn 0 còn được gọi là carcinoma in situ.
  • Giai đoạn I: Trong giai đoạn I, ung thư đã hình thành trong niêm mạc (lớp bên trong) của thành ruột kết và lan đến niêm mạc (lớp mô dưới niêm mạc). Ung thư có thể lan đến lớp cơ của thành ruột kết.
  • Giai đoạn II: Giai đoạn II ung thư ruột được chia thành giai đoạn IIA, giai đoạn IIB, và giai đoạn IIC.
  • Giai đoạn IIA: Ung thư đã lan rộng qua lớp cơ của thành ruột đến lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột.
  • Giai đoạn IIB: Ung thư đã lan rộng qua lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột nhưng không lan sang các cơ quan lân cận.
  • Giai đoạn IIC: Ung thư đã lan rộng qua lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột đến các cơ quan lân cận.
  • Giai đoạn III: Giai đoạn III ung thư ruột được chia thành giai đoạn IIIA, giai đoạn IIIB, và giai đoạn IIIC.

Giai đoạn IIIA có 2 trường hợp có thể xảy ra

  1. Ung thư có thể lan truyền qua niêm mạc (lớp trong cùng) của thành ruột kết đến niêm mạc (lớp mô dưới niêm mạc) và có thể lan đến lớp cơ của thành ruột kết. Ung thư đã lan đến ít nhất một nhưng không quá 3 hạch bạch huyết gần đó hoặc các tế bào ung thư đã hình thành trong các mô gần hạch bạch huyết;
  2. Ung thư đã lan truyền qua niêm mạc (lớp bên trong) của thành ruột kết đến niêm mạc (lớp mô dưới niêm mạc). Ung thư đã lan rộng đến ít nhất 4 nhưng không quá 6 hạch bạch huyết lân cận.

Giai đoạn IIIB có 3 trường hợp có thể xảy ra

  1. Ung thư đã lan rộng qua lớp cơ của thành ruột kết đến lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột kết hoặc đã lan rộng qua huyết thanh nhưng không đến các cơ quan lân cận. Ung thư đã lan đến ít nhất một nhưng không quá 3 hạch bạch huyết gần đó hoặc các tế bào ung thư đã hình thành trong các mô gần hạch bạch huyết;
  2. Ung thư đã lan đến lớp cơ của thành ruột kết ruột kết hoặc đến lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột kết. Ung thư đã lan đến ít nhất 4 nhưng không quá 6 hạch bạch huyết gần đó;
  3. Ung thư đã lan rộng qua niêm mạc (lớp trong cùng) của thành ruột kết đến niêm mạc (lớp mô dưới niêm mạc) và có thể lan đến lớp cơ của thành ruột kết. Ung thư đã lan đến 7 hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận.

Giai đoạn IIIC có 3 trường hợp

  1. Ung thư đã lan rộng qua lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột kết nhưng không lan sang các cơ quan lân cận. Ung thư đã lan đến ít nhất 4 nhưng không quá 6 hạch bạch huyết gần đó
  2. Ung thư đã lan rộng qua lớp cơ của thành ruột kết đến lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột kết hoặc đã lan rộng qua huyết thanh nhưng không lan sang các cơ quan lân cận. Ung thư đã lan đến 7 hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận
  3. Ung thư đã lan rộng qua lớp huyết thanh (lớp ngoài cùng) của thành ruột kết và lan sang các cơ quan lân cận. Ung thư đã lan đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết gần đó hoặc các tế bào ung thư đã hình thành trong các mô gần hạch bạch huyết.

Giai đoạn IV: ung thư ruột kết được chia thành giai đoạn IVA và giai đoạn IVB

  • Giai đoạn IVA: Ung thư có thể lan truyền qua thành ruột kết và có thể lan sang các cơ quan lân cận hoặc hạch bạch huyết. Ung thư đã lan đến một trong những cơ quan không gần ruột già, chẳng hạn như gan, phổi, hoặc buồng trứng, hoặc đến một hạch bạch huyết xa.
  • Giai đoạn IVB: Ung thư có thể lan truyền qua thành ruột kết và có thể lan tới các cơ quan lân cận hoặc hạch bạch huyết. Ung thư đã lan đến nhiều hơn một cơ quan mà không phải là gần đại tràng hoặc vào lớp lót của thành bụng.

Chẩn đoán bệnh ung thư ruột

Một số xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán ung thư ruột. Ban đầu bác sĩ sẽ kiểm tra sức khỏe toàn diện và khám các triệu chứng lâm sàng. Nếu có nghi ngờ một khối u đang hình thành và phát triển trong hệ thống đường ruột, bác sĩ có thể chỉ định thêm một số xét nghiệm chuyên khoa

  • Xét nghiệm máu: giúp kiểm tra số lượng hồng cầu trong máu
  • Nội soi: Thử nghiệm tốt nhất cho các bệnh ung thư đường ruột là nội soi. Tùy vào từng triệu chứng, bác sĩ có thể chỉ định nội soi đại tràng, tá tràng hay toàn bộ hệ thống đường ruột. Nội soi giúp phát hiện các dấu hiệu bất thường ở niêm mạc đường ruột. Trường hợp có khối u, những hình ảnh nội soi giúp bác sĩ biết chính xác vị trí, kích thước, hình thái của khối u trong đường ruột.
  • Siêu âm ổ bụng: Siêu âm bụng được sử dụng để xác định ung thư đã lan ra gan hoặc siêu âm hậu môn mạc (ERUS) nếu các xét nghiệm khác cho thấy ung thư xuất hiện ở trực tràng hoặc hậu môn.
  • Chụp CT hoặc MRI: Chụp cắt lớp vi tính CT tạo ra các hình ảnh ba chiều của một số cơ quan cùng một lúc và có thể được sử dụng để kiểm tra ruột. Chụp MRI tạo ra các hình ảnh cắt ngang chi tiết của cơ thể và có thể cho thấy mức độ của bất kỳ khối u nào, thường được chỉ định khi bác sĩ nghi ngờ ung thư đang xâm lấn vào hệ bạch huyết và lan sang các cơ quan khác trong cơ thể.
  • Chụp PET: Trong chụp cắt lớp phát xạ positron (PET), một lượng nhỏ glucose phóng xạ được tiêm vào cơ thể. Khi được quét, các tế bào ung thư sẽ sáng hơn, giúp bác sĩ phát hiện ra các vị trí tế bào ung thư trong cơ thể. Nó thường được sử dụng trong các trường hợp bác sĩ nghi ngờ ung thư chuyển sang giai đoạn di căn hoặc khối u ở ruột là do di căn từ cơ quan khác trong cơ thể đến.

Cách điều trị bệnh ung thư ruột

  • Tùy vào từng giai đoạn phát triển và vị trí của khối u trong đường ruột, bác sĩ sẽ xây dựng cách chữa bệnh ung thư ruột phù hợp cho từng bệnh nhân. Trong đó, hiện nay chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
  • Phẫu thuật: thường được thực hiện khi phát hiện ung thư ruột ở giai đoạn sớm, khối u vẫn chưa ăn sâu vào hệ bạch huyết và lan sang các cơ quan khác. Việc cắt bỏ toàn bộ hay một phần đường ruột còn phụ thuộc vào vị trí của khối u. Đây cũng là một trong những cách điều trị bệnh ung thư ruột được nhiều bệnh nhận sử dụng.
  • Xạ trị: thường được sử dụng trước khi giải phẫu cho ung thư đường ruột đã di căn và có thể được sử dụng kết hợp với hóa học để giảm số lượng và kích cỡ tế bào ung thư trước khi tiến hành phẫu thuật.
  • Hóa trị có thể được khuyến cáo sau khi phẫu thuật ung thư trực tràng hoặc ruột kết. Điều này nhằm làm giảm nguy cơ ung thư trở lại.

Sử dụng Phức hệ Nano Extra XFGC giúp ức chế tế bào ung thư, giảm tác dụng phụ của hóa – xạ trị

Hiện nay, để tăng hiệu quả điều trị các đầu bệnh ung thư các bác sĩ thường sử dụng kết hợp các phương pháp điều trị và hỗ trợ điều trị khác nhau. Gần đây, Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu ra phức hệ Nano Extra XFGC trong việc dự phòng và hỗ trợ điều trị ung thư từ  Xáo tam phân – Fucoidan sulfate hóa cao – Panax NotoGinseng (Tam thất) – Curcumin.

Đây là đề tài được kế thừa và phát huy từ đề tài nghiên cứu cấp Quốc gia – chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Duy Nhứt. Qua thử nghiệm lâm sàng trên động vật và tế bào ung thư sống  khác nhau, phức hệ Nano Extra XFGC  đã cho thấy công dụng phòng và hỗ trợ điều trị đạt hiệu quả cao. Phức hệ giúp phòng ngừa ung thư, bằng những chiết xuất từ trong thiên nhiên (xáo tam phân, fucoidan, slufate, nghệ, tam thất,…) đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Đối với bệnh nhân đang mắc ung thư:

Làm giảm rõ ràng tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị, tăng cường sức khỏe.

Làm chậm quá trình phát triển của khối u, tiêu diệt tế bào ung thư, ngăn ngừa tái phát và di căn do có thể thúc đẩy cơ chế tự chết của tế bào ung thư và ngăn ngừa hình thành mạch máu mới tại khối u, cắt bỏ nguồn dinh dưỡng nuôi tế bào ung thư.

Đối với người bình thường để dự phòng ung thư hữu hiệu và tăng cường sức khỏe:

  • Tăng sức đề kháng, chống ôxi hóa, cân bằng nội môi tế bào, sản xuất chất kháng viêm kháng u nên đồng thời giúp dự phòng nhiều bệnh khác.
  • Điều hòa huyết áp, đường huyết, mỡ máu; tăng cường chức năng gan; chống viêm loét dạ dày tá tràng.
  • Dự phòng đột quỵ não và tai biến tim mạch do ngăn ngừa hình thành cục máu đông trong lòng mạch.
Chia sẻ:

Phức hệ Nano Extra XFGC - Dàn hòa tấu đẩy lùi ung bướu

* Điền thông tin để đặt hàng trực tuyến:
GIAO HÀNG MIỄN PHÍ, THANH TOÁN TẠI NHÀ

Hộp Ksol 30 viên (680.000đ)
Tổng giá:
ksol
  • Giúp bổ sung các chất chống oxy hóa, hạn chế gốc tự do, giảm nguy cơ mắc ung bướu
  • Giảm tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị và sau phẫu thuật
  • Giúp giảm triệu chứng viêm loét dạ dày, tá tràng; giảm nguy cơ mắc bệnh tim, mạch

Lý do khách hàng tin tưởng sản phẩm GHV Ksol

Được chuyển giao từ đề tài khoa học thuộc viện Hàn Lâm KH & CN Việt Nam. Mã số đề tài: NITRA.09.2016
Được hàng chục ngàn khách hàng tin dùng và đánh giá cao về tính an toàn và hiệu quả khi sử dụng
Được Bộ Y Tế cấp phép lưu hành. GPXNCB: 31498/2016/ATTP-XNCB
Chuyên gia tư vấn 24/7

Javascript của bạn không hoạt động.

Đơn hàng có thể sẽ không gửi được đến quản trị viên.

Vui lòng gọi hotline: 1800 6808 để được tư vấn và đặt hàng.

Xin cảm ơn!

Sản phẩm không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

0 bình luận